Bệnh bạch cầu

Căn bệnh ác tính trong hệ tạo máu, một trong những loại khối u ác tính thường gặp. Có đặc trưng bất kì loại bạch cầu nào cùng cực tế bào non của chúng (tức tế bào bệnh bạch cầu) trong tủy hoặc trong các tổ chức tạo máu khác tăng thêm khác thường kiểu khối u sẽ khiến cho sự sinh trưởng của các tế bào máu bình thường bị giảm. Nam phát bệnh cao hơn nữ một chút, gấp 2,5 lần nữ. Căn cứ theo sự tăng sinh dị thường của hàng loạt bạch cầu, bệnh bạch cầu được chia thành bệnh bạch cầu tế bào hạt, tế bào limpha và bệnh bạch cầu tế bào đơn nhân. Dựa vào mức độ nhanh chậm của quá trình bệnh và mức độ thành thục của bạch cầu có thể chia thành các loại mãn tính và cấp tính. Bệnh bạch cầu tế bào hạt cấp gặp nhiều ở thanh niên 21 – 30 tuổi, còn bệnh bạch cầu tế bào limpha cấp thì tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 10 tuổi là cao nhất, bệnh bạch cầu tế bào hạt mãn gặp nhiều ở độ tuổi 21 – 40 tuổi, bệnh bạch cầu tế bào limpha mãn phần lớn phát sinh ở người già trên 50 tuổi. Triệu chứng có sốt các nốt bầm tím do xuất huyết, bị thiếu máu,… Về thể chứng có gan sưng to, sưng hạch bạch huyết, đái ra máu, tổng số bạch cầu tăng lên, xem ảnh chụp thấy bạch cầu nguyên thủy tăng lên, dựa vào đó có thể chẩn đoán được. Nguyên nhân gây bệnh bạch cầu chưa được làm rõ, nhưng có liên quan tới các nhân tố di truyền và môi trường. Benzen sẽ gây ra bệnh bạch cầu nghề nghiệp, chiếu tia phóng xạ quá liều lượng làm tăng thêm nguy cơ dẫn đến bệnh bạch cầu. Bệnh bạch cầu tương quan dương với nguyên tố vi lượng là cađimi, tương quan âm với molipđen. Với bệnh nhân bệnh bạch cầu ngoài việc dùng thuốc bằng hóa chất để trị liệu ra, còn cần áp dụng các biện pháp trị liệu bằng dinh dưỡng:

1)Cung cấp protein cần đầy đủ, chọn dùng những thức ăn có chứa protein cao, lipit thấp, như cá quả, ba ba, chế phẩm từ đậu,…

2) Vitamin A có tác dụng phân hóa bình thường đối với tế bào, all-trans methanoic acid trong vitamin A sẽ làm cho tế bào bệnh bạch cầu hạt non phân hóa được bình thường, từ đó đạt được tác dụng trị liệu bệnh bạch cầu hạt non đã được chứng thực qua nuôi cấy tế bào, được dùng vào điều trị lâm sàng và đã thu được hiệu quả trị liệu tốt. Liều lượng là all – trans methanoic acid 20mg, mỗi ngày uống 3 – 4 lần, nhưng với các loại bệnh bạch cầu khác hiệu quả chưa rõ ràng, vẫn đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu tác dụng kháng bệnh bạch cầu của các chất dẫn xuất từ vitamin A. 3) Với những người đang trị liệu bằng hóa chất, phải cung cấp bổ sung β – caroten, vitamin E, C, B2, B6 và selen; nên uống β – caroten 10 – 15mg, vitamin B2 2 – 3mg, vitamin B6 2 – 3mg, vitamin E 30 – 60mg, vitamin C 0,6 – 1,0g, selen 0,1 – 0,2mg.

Vinh Nguyễn tổng hợp

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply