Рейтинг бесплатных cms.
Шаблоны joomla 3 скачать бесплатно.

Chăm sóc người bệnh sau mổ tại khoa ngoại

01 November 2017
(0 votes)
Author :  

Choáng do giảm khối lượng tuần hoàn, choáng tim, choáng thần kinh, choáng nhiễm trùng.

CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU MỔ TẠI KHOA NGOẠI

BS Nguyễn Ngọc Hiền

  1. PHÒNG NGỪA, PHÁT HIỆN VÀ XỬ TRÍ CÁC BIẾN CHỨNG SAU MỔ

1.1. Choáng:

Choáng là biến chứng thường xảy ra trong thời kỳ hậu phẫu. Choáng gây ra giảm tưới máu cho các mô như tim, thận và nhất là não dẫn đến tình trạng mất khả năng sử dụng oxy, chuyển hoá các chất dinh dưỡng, mất khả năng đào thải chất độc. Ở giai đoạn hậu phẫu, choáng thường gặp là choáng giảm khối lượng tuần hoàn.

- Phòng ngừa bệnh: công tác tư tưởng trước mổ, giữ ấm, giảm đau, yên tĩnh, di chuyển nhẹ nhàng, an toàn. Điều dưỡng luôn theo dõi sát dấu chứng sinh tồn và chăm sóc người bệnh, phát hiện sớm dấu hiệu choáng.

- Chăm sóc: nếu BN choáng cho nằm đầu thấp, chân cao hơn tim 15–30 độ. Thông đường thở, liệu pháp oxy cho người bệnh. Báo cáo BS.

1.2. Chảy máu:

Chảy máu có thể nhìn thấy (như chảy máu vết mổ, trong cơ hay tổ chức dưới da) hoặc không nhìn thấy (như chảy máu trong ổ bụng, trong màng phổi…)

Triệu chứng (tùy nặng hay nhẹ): người bệnh thấy khát, da lạnh, niêm mạc nhạt, huyết áp giảm, nhiệt độ hạ, lơ mơ, Hct giảm. Điều dưỡng xử lý tạm thời nếu có thể (như băng ép cầm máu) và báo cáo ngay cho BS.

1.3. Tắt động, tĩnh mạch sâu:

Nguy cơ thường xảy ra ở người bệnh phẫu thuật hông, chi dưới, hệ tiết niệu, phụ khoa, thần kinh, người bệnh > 60 tuổi, béo phì, u ác tính. Khi người bệnh có các dấu hiệu đau và chuột rút bắp chân, tê, phù mềm, ấn lõm, mất mạch... thì điều dưỡng báo cáo ngay cho BS, thực hiện nghiiêm các y lệnh, theo dõi nhiệt độ, cảm giác chi. Để phòng ngừa nên hướng dẫn người bệnh cách tập luyện chân sau mổ, tránh buộc dây cố định chi quá chặt.

1.4. Tắt mạch phổi:

Tắc mạch phổi là sự di chuyển của cục máu đông, mỡ hoặc nước ối… về tim, tới phổi gây tắc nghẽn các nhánh ĐM ở phổi. Thường gặp ở BN phẫu thuật gẫy xương các đầu chi, BN béo phì, bị liệt lâu ngày, sản phụ khi mổ đẻ.

Việc phát hiện sớm biến chứng nguy hiểm này tuỳ thuộc vào trình độ điều dưỡng cũng như mức độ theo dõi người bệnh sau mổ có sâu sát không. Khi thăm khám phát hiện BN choáng, đau chói ngực, khó thở, tím tái, đồng tử giãn. Tỷ lệ tử vong rất cao. Cấp cứu sớm trong vòng 30 phút đầu có hiệu quả khả quan hơn.

ĐD cần báo ngay cho BS. Trong khi chờ đợi, cung cấp oxy ngay cho người bệnh, theo dõi nồng độ oxy trong máu trên monitor và chỉ số khí máu động mạch. Cho người bệnh nằm đầu cao lên và tìm tư thế thoải mái. Phòng bệnh cho người bệnh bằng cách cho người bệnh ngồi dậy đi lại, vận động sớm. Khi truyền dịch tránh truyền chi bị liệt. Đối với BN béo phì cần ủ ấm (nếu trời lạnh), di chuyển nhẹ nhàng

1.5. Biến chứng hô hấp:

- Nguy cơ viêm phế quản, phổi thường xảy ra trên người bệnh hậu phẫu. Viêm phế quản, phổi có thể do nhiễm trùng sau đặt nội khí quản, hít phải dịch tiết, do ứ đọng vì nằm lâu, người bệnh thở máy, ở người bệnh hôn mê mất phản xạ nuốt, ho.

Biểu hiện lâm sàng như sốt cao, rét run, mạch nhanh, thở nhanh, khò khè, khó thở, đau ngực, ho.

BN cần được hút đàm khi có tăng tiết đàm nhớt.Nếu người bệnh tỉnh nên hướng dẫn ho, khạc đàm. Khi phát hiện có triệu chứng viêm phổi điều dưỡng nên báo cáo ngay với BS, thực hiện y lệnh kháng sinh, hỗ trợ hô hấp, thở oxy, chăm sóc người bệnh sốt cao, theo dõi khí máu động mạch. Cung cấp dụng cụ khạc nhổ an toàn, cách ly tốt.

- Nguy cơ xẹp phổi thường xảy ra do người bệnh nằm tại chỗ lâu ngày, do đau không dám thở mạnh, ho, khạc. Khi điều dưỡng phát hiện các dấu hiệu khó thở, rì rào phế nang giảm, khò khè, tím tái cần báo cáo ngay cho BS. Điều dưỡng cho người bệnh nằm đầu cao, thở oxy theo y lệnh, hướng dẫn người bệnh cách ho, hít thở sâu.

Điều dưỡng phòng ngừa xẹp phổi bằng cách hướng dẫn cho người bệnh ngồi dậy sớm, hít thở sâu, giữ ấm, môi trường thoáng khí.

1.6. Biến chứng dạ dày – ruột:

Sau mổ do nằm tại giường, do ảnh hưởng thuốc mê, tê, do ít vận động, do đau, do tác dụng thuốc giãn cơ, do mổ trên đườn tiêu hóa nên BN dễ có nguy cơ bị liệt ruột, chướng bụng sau mổ.

Khi thăm khám thấy các dấu hiệu đau bụng, bụng trướng hơi, khó thở, nhu động ruột (–), điều dưỡng cần đặt ống thông dạ dày, cho người bệnh ngồi dậy, xoay trở, tập thở. Cho người bệnh vận động càng sớm càng tốt, nhất là người bệnh được mổ đường tiêu hoá. Hướng dẫn người bệnh hít thở sâu, tập bụng, xoay trở và thực hiện thuốc giảm đau trước khi tập (nếu có y lệnh). Hướng dẫn người bệnh ngồi dậy sớm. Cho BN ăn uống sớm (từ lỏng đến đặc dần), ngoại trừ mổ đường tiêu hóa phải có chỉ thị của BS. (xem thêm phụ lục)

1.7. Nhiễm trùng vết mổ:

Thực hiện việc rửa tay trước và sau khi chăm sóc vết thương là điều bắt buộc để tránh nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. Điều dưỡng khi phát hiện dấu hiệu nhiễm trùng vết mổ như sưng, nóng, đỏ, đau ở vết mổ thì nên mở băng ra quan sát vết mổ và báo cáo BS.

1.8. Loạn thần sau mổ:

Có thể do tâm lý như người bệnh cao tuổi, bệnh lý. Công tác tư tưởng cho người bệnh, thực hiện thuốc an thần, cho phép thân nhân ở cùng người bệnh, giữ yên tịnh và chỉnh ánh sáng dịu trong phòng BN.

  1. CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG:

2.1. Đường thở:

Đảm bảo chức năng hô hấp tối ưu như nâng cao sự giãn nở ở phổi. Hướng dẫn người bệnh hít thở sâu, xoay trở, cho ngồi dậy. Khuyến khích người bệnh ngồi dậy sớm (cơ hoành hạ thấp xuống thì lồng ngực gia tăng thể tích thở). Nhưng lưu ý sau mổ người bệnh rất đau, nhất là những người bệnh mổ ngực, mổ bụng, cột sống. Nên thực hiện thuốc giảm đau trước khi tập, theo dõi nhịp thở, đánh giá sự thông khí của người bệnh.

2.2. Người bệnh không thoải mái sau mổ:

- Giúp người bệnh giảm đau: Có rất nhiều nguyên nhân khiến người bệnh đau: Đau do tâm lý lo sợ, đau do mức độ trầm trọng của phẫu thuật, của chấn thương thực thể. Đau sau mổ phụ thuộc vào tâm sinh lý, mức độ chịu đựng người bệnh, bản chất phẫu thuật, mức độ chấn thương ngoại khoa. Vì thế điều dưỡng cần có sự chuẩn bị tâm lý trước mổ giúp người bệnh biết cách tự chăm sóc hơn và trên hết là tâm lý an tâm sau mổ. Điều dưỡng chú ý thực hiện thuốc ngủ, thuốc giảm đau (theo y lệnh), tư thế giảm đau, công tác tư tưởng cho người bệnh.

- Giúp người bệnh bớt khó chịu: Nguyên nhân người bệnh khó chịu là do tư thế không thoải mái trên giường bệnh, phản ứng của cơ thể lúc hồi tỉnh, do đau, do băng quá chặt, do cố định người bệnh quá lâu, bí tiểu. Điều dưỡng cần biết nguyên nhân và giải quyết nguyên nhân giúp người bệnh thoải mái. Điều dưỡng thường xuyên giúp người bệnh xoay trở, nằm tư thế thích hợp, thực hiện thuốc giảm đau, đảm bảo an toàn cho người bệnh, nới lỏng dây cố định, giải quyết bí tiểu.

- Chăm sóc người bệnh nôn: Nôn do nhiều nguyên nhân như do tác dụng phụ của thuốc mê, thuốc tê, do ruột, dạ dày ứ đọng dịch,… Sau mổ, người bệnh nên nằm tư thế đầu bằng, mặt nghiêng một bên để tránh khi nôn dịch không tràn vào đường thở. Nếu có ống hút dạ dày (ống Levine) điều dưỡng nên nối xuống thấp, hút dịch qua ống Levine, theo dõi tình trạng căng chướng bụng.

- Chăm sóc người bệnh căng chướng bụng: Căng chướng bụng sau mổ hầu như thường gặp ở tất cả phẫu thuật. Nguyên nhân là do tích lũy khí ở ruột, sau mổ nội soi ổ bụng, thao tác trên ruột, do thuốc giãn cơ…

Điều dưỡng cần thăm khám lại tình trạng bụng cho người bệnh. Nghe nhu động ruột (thường khoảng 15–30 giây có 1 nhu động là bình thường). Điều dưỡng giúp người bệnh xoay trở, ngồi dậy, vận động đi lại thì nhu động ruột hoạt động sớm sẽ giúp bụng người bệnh bớt chướng. Nếu người bệnh vẫn còn chướng thì điều dưỡng báo cáo BS, thực hiện y lệnh hút dịch qua ống thông dạ dày và đặt thông trực tràng.

Nếu người bệnh tỉnh, hợp tác tốt nên hướng dẫn người bệnh tập cho bóng hơi di chuyển theo khung đại tràng theo cách như sau: người bệnh nằm ngửa, kê gối dưới đầu, duỗi chân thẳng, bảo người bệnh hít thở sâu qua mũi, đồng thời co đầu gối chân phải vào bụng trong 10 giây và người bệnh thở ra từ từ qua miệng đồng thời duỗi chân phải ra, đến chân trái cũng làm giống như thế.

Khuyến khích người bệnh ngồi dậy sớm (ngoại trừ chống chỉ định như đã nói trên), đi lại sớm.

Khuyến khích BN uống nước rồi ăn lỏng sớm (24 - 48 giờ sau mổ) không chờ ”đánh hơi” ngoại trừ BN được mổ đường tiêu hóa cần có ý kiến BS. (xem phụ lục)

- Chăm sóc người bệnh bị nấc: Nấc gây ra do sự co thắt của cơ hoành (do kết quả dây thanh đóng lại khi không khí đột ngột ào vào phổi). Nguyên nhân là do kích thích của thần kinh hoành, khi dạ dày căng chướng. Nấc cũng do nguyên nhân bệnh lý thần kinh. Ngoài ra, nấc còn do phản xạ từ ống dẫn lưu, do uống nước quá nóng hay quá lạnh.

Điều dưỡng phải hiểu do nguyên nhân nào để loại trừ nguyên nhân nhằm tránh người bệnh bị nấc sau mổ. Ngoài ra, có một số phương pháp như nhịn thở khi uống ngụm nước to, đè lên nhãn cầu (thận trọng vì người bệnh có thể ngưng thở). Nếu không giải quyết được thì trình BS.

2.3. Bảo đảm an toàn cho người bệnh:

Để tránh những tổn thương cho người bệnh như té, sút dịch truyền, dẫn lưu thì người bệnh luôn nằm trong tầm nhìn điều dưỡng. Điều dưỡng cố định người bệnh an toàn, cho thành giường lên cao.

2.4. Giảm khối lượng tuần hoàn và co thắt mạch máu:

– Quan sát: Triệu chứng giảm tưới máu cho mô như Huyết áp giảm; Mạch > 100 lần/phút; Vật vã; Tri giác đáp ứng chậm; Da lạnh ẩm, xanh tím; Nước tiểu < 30ml/giờ, Thời giam đổ đầy mao mạch > 3 giây (xem phụ lục). Dấu hiệu giảm lượng máu tuần hoàn (mất máu) như huyết áp giảm, nhịp tim nhanh, CVP hạ (bt: 4 – 12 cm H2O).

- Nguyên nhân: sau mổ người bệnh rất dễ bị mất nước do tăng tiết mồ hôi, bài tiết đàm nhớt, mất nước do không ăn uống, dẫn lưu, rò dịch,… Khi mất dịch, người bệnh có các triệu chứng như khát, dấu véo da (+), khô niêm mạc miệng, nước tiểu giảm dưới 30ml/giờ, áp lực tĩnh mạch trung tâm giảm, huyết áp giảm, mạch nhanh.

- Chăm sóc: Điều dưỡng theo dõi sát, phát hiện sớm dấu hiệu mất máu, chảy máu, báo cáo BS; Kiểm tra dấu chứng sinh tồn, thực hiện y lệnh truyền máu, truyền dịch.

- Phát hiện sớm dấu hiệu thiếu nước. Trong trường hợp thiếu hụt dịch thể, điều dưỡng duy trì dịch truyền theo số giọt theo y lệnh, thực hiện bù điện giải theo y lệnh, theo dõi lượng nước xuất nhập qua áp lực tĩnh mạch trung tâm, ion đồ. Báo cáo BS ngay khi thấy các trị số bất thường. Giữ nhiệt độ phòng thích hợp. Cho người bệnh uống nước (nếu không có chống chỉ định), giúp người bệnh bớt khô môi, miệng. Cần theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn.

- Theo dõi dấu hiệu tăng lưu lượng tuần hoàn (do truyền dịch quá nhiều trong và sau mổ) như Huyết áp tăng, CVP > 15cm H2O, ran ẩm 2 đáy phổi, Tim có tiếng ngựa phi.

2.5. Biến đổi dinh dưỡng:

- Nguyên nhân: Người bệnh có nguy cơ suy kiệt sau mổ do nhịn ăn trước mổ, trong và sau mổ, do chịu đựng căng thẳng trong phẫu thuật, do bệnh lý mạn tính trước đó.

- Chăm sóc: Duy trì đầy đủ chất dinh dưỡng và phù hợp bệnh lý qua dịch truyền, ống thông dạ dày, Cho ăn uống bằng miệng sớm. Nếu người bệnh không nôn, điều dưỡng giúp người bệnh ăn uống bằng đường miệng sẽ giúp kích thích dịch tiêu hoá, tăng cường chức năng dạ dày, ruột (ngoại trừ phẫu thuật đường tiêu hóa) (xem phụ lục). Việc nhai cũng giúp tránh nguy cơ viêm tuyến mang tai, người bệnh cảm thấy ngon miệng. Cần đánh giá người bệnh qua cân nặng và tính chính xác năng lượng cần thiết cho người bệnh trong ngày.

2.6. Biến đổi bài tiết nước tiểu:

- Nếu sau mổ người bệnh khó hoặc bí tiểu, điều dưỡng nên áp dụng các phương pháp giúp người bệnh tiểu bình thường như cho nghe tiếng nước chảy, đắp ấm vùng bụng dưới (chú ý tránh gây bỏng cho người già, người bệnh gây tê tuỷ sống, người bệnh liệt mất cảm giác), đở BN ngồi dậy, tiểu kín đáo, tiểu đúng tư thế... Ghi đầy đủ số lượng, tính chất, màu sắc nước tiểu vào hồ sơ mỗi ngày. Nếu người bệnh có thông tiểu, điều dưỡng chăm sóc ống thông, theo dõi nước tiểu, cho người bệnh uống nhiều nước (nếu được), nên rút thông tiểu sớm. Nếu không kết quả báo cáo BS.

2.7. Rối loạn nhu động ruột:

- Nguyên nhân: người bệnh không đại tiện sau mổ là do thụt tháo trước mổ, do thuốc mê hoặc thao tác trên ruột làm ruột bị liệt tạm thời, do người bệnh chưa ăn uống.

- Nhận định: người bệnh than không đại tiện được thì điều dưỡng phải hỏi người bệnh thời gian bao lâu rồi chưa đại tiện ? Đã ăn uống gì chưa? Chế độ ăn có chất xơ không? Khám xem người bệnh có hậu môn nhân tạo không?

- Can thiệp điều dưỡng: Điều dưỡng giúp người bệnh đại tiện thông thường. Nếu người bệnh đã ăn uống được mà vẫn không đại tiện, điều dưỡng khuyên người bệnh vận động, đi lại sớm, ăn thức ăn nhuận tràng, uống nhiều nước. Cho người bệnh thuốc nhuận tràng hoặc bơm thuốc vào hậu môn theo y lệnh.

- Tiêu chảy: Sau mổ người bệnh cũng có nguy cơ bị tiêu chảy là do thuốc kháng sinh, biến chứng của bệnh, do ăn uống không hợp vệ sinh. Điều dưỡng cần hỏi bệnh nhân cụ thể về cách ăn uống để biết nguyên nhân tiêu chảy, ... báo cáo BS.

2.8. Khả năng nhiễm trùng, tổn thương da và ống dẫn lưu: Có 4 đường vi trùng có thể xâm nhập vào cơ thể là: qua da, hô hấp, niệu– sinh dục và máu (qua vết mổ, dẫn lưu, hậu môn nhân tạo, nơi xuyên đinh, thông tiểu…). Để tránh nguy cơ nhiễm trùng sau mổ cho người bệnh, điều dưỡng cần phải triệt để tuân theo nguyên tắc kỹ thuật vô khuẩn khi chăm sóc người bệnh: Rửa tay trước và sau khi chăm sóc BN, khi thực hiện thủ thuật trên người bệnh. Nâng cao dinh dưỡng cho BN giúp tăng sức đề kháng cho người bệnh.

2.9. Chăm sóc vết mổ:

  1. Vết mổ sạch:

- Trong trường hợp vết mổ nội soi, điều dưỡng không thay băng, nếu phẫu thuật viên may dưới da thì không cần cắt chỉ.

- Trong những trường hợp mổ mở:

    - Khâu kín da: Vết mổ sạch (vô khuẩn) thì không thay băng, sau mổ 5–7 ngày cắt chỉ; nhưng nếu người bệnh già hay tình trạng người bệnh suy kiệt nhiều, vết mổ quá dài, vết mổ ở vị trí thiếu máu nuôi thì nên cắt chỉ chậm hơn, khoảng 10 ngày sau mổ.

   - Khâu thưa hay để hở da: đây là trường hợp phẫu thuật có nguy cơ nhiễm trùng nên phẫu thuật viên thường để hở da giúp thoát dịch. Điều dưỡng phải chăm sóc vết mổ mỗi ngày: Rữa vết mổ (theo quy trình), thay băng, ghi tình trạng vết mổ vào hồ sơ để bác sĩ quyết định. Cắt chỉ theo y lệnh.

   - Vết mổ may bằng chỉ thép: Thường phẫu thuật viên may chỉ thép cho người bệnh vì các lý do: vết mổ quá căng (như ở ngực), vết mổ nhiễm trùng, suy dinh dưỡng nặng, vết mổ đã mổ nhiều lần cần có thời gian lành vết thương. ĐD thay băng khi có thấm dịch, cắt chỉ sau 14–20 ngày sau mổ. Khi thay băng cần nhận định tình trạng vết mổ, dịch thấm băng và ghi vào hồ sơ. Khi vết mổ chảy máu: nếu ít thì băng ép vết mổ, nếu chảy máu nhiều nên băng ép tạm thời, theo dõi dấu chứng sinh tồn, đồng thời báo cáo bác sĩ.

   - Vết mổ nhiễm trùng: nếu người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng vết mổ thì điều dưỡng nên mở băng quan sát, báo cáo bác sĩ xử lý.

2.10. Chăm sóc dẫn lưu, mèche:

Nhận định: dẫn lưu ở đâu, mục đích của dẫn lưu, của mèche để theo dõi và chăm sóc đúng.

- Theo dõi: số lượng, màu sắc, tính chất dịch dẫn lưu. Hệ thống dẫn lưu có câu nối xuống túi chứa dịch được đặt thấp hơn vị trí dẫn lưu ít nhất 60cm ? hệ thống nối có đảm bảo vô trùng không?

- Chăm sóc: đặt bình chứa dịch thấp hơn chân dẫn lưu 60cm. Tránh người bệnh nằm đè cấn lên vết thương. Cần hướng dẫn người bệnh kẹp ống dẫn lưu khi xoay trở, đi lại để tránh tình trạng dịch chảy ngược dòng.

Điều dưỡng chăm sóc da xung quanh chân dẫn lưu mỗi ngày hay khi thấm dịch. Tuỳ tình trạng, tính chất dịch mà điều dưỡng phải biết cách phòng ngừa lở da do dịch thấm.

Thời gian rút dẫn lưu tuỳ thuộc vào mục đích của dẫn lưu, tình trạng người bệnh và tuỳ thuộc vào phẫu thuật viên. Đối với mèche, có 2 chức năng: Cầm máu và/hoặc dẫn lưu dịch, mủ. Rút dẫn lưu sớm khi dẫn lưu hết chức năng.

2.11. Suy giảm chức năng vận động:

Sau mổ do đau, do bệnh lý, người bệnh vận động kém hay không thể vận động được. Nguy cơ cao khi không vận động là viêm phổi, thuyên tắc mạch, liệt ruột, loét do tì đè. Để tránh các biến chứng đó nên cho người bệnh vận động, đi lại sớm hoặc điều dưỡng giúp xoay trở người bệnh mỗi 2 giờ/lần (đối với BN không tự xoay trở được). Tập luyện trên giường nên thực hiện sau mổ khoảng 24 giờ.

2.12. Tâm lý lo lắng sau mổ: 

Sau mổ người bệnh rất lo lắng vì đau, vì sợ biến dạng cơ thể, vì lo lắng biến chứng sau mổ… Tâm lý lo lắng cũng ảnh hưởng đến tiến trình hồi phục sau mổ, vì thế điều dưỡng càn  luôn luôn vui vẻ  động viên, an ủi người bệnh, giúp người bệnh thoải mái, an tâm điều trị.

2.13. Lập hồ sơ và báo cáo số liệu

Ghi lại những triệu chứng, diễn biến bất thường, những than phiền của người bệnh vào hồ sơ, báo cáo BS hoặc ĐD trưởng.

 

 

 

PHỤ LỤC

 

 

  1. THANG ĐIỂM GLASGOW

Bộ phận khám

Mức độ

Ðiểm

Mắt(E: eyes)

Mở mắt tự nhiên

Mở mắt khi ra lệnh

Mở mắt khi gây đau

Không mở

4

3

2

1

Lời nói(V: verbal)

Nói trả lời đúng

Trả lời hạn chế

Trả lời lộn xộn

Không rõ nói gì

Không nói

5

4

3

2

1

Vận động(M: motor)

Ðáp ứng đúng khi ra lệnh

Ðáp ứng đúng chỉ khi gây đau

Co chi lại, cử động không tự chủ

Co cứng mất vỏ

Co cứng mất não

Nằm yên không đáp ứng

6

5

4

3

2

1

 Cách tính điểm: cộng E + V + M: điểm thấp nhất 3, điểm cao nhất 15.

Glasgow 3 - 4 điểm tương ứng với hôn mê độ IV; Glasgow 5 - 8 điểm tương ứng hôn mê độ III; Glasgow 9 - 11 điểm tương ứng với hôn mê độ II và Glasgow 12 - 13 điểm được coi là hôn mê độ I.
Chấn thương sọ não nặng là những trường hợp có điểm số Glasgow từ 3 - 8 điểm.

Trên 10 điểm tình trạng tinh thần tốt, 3-4 điểm hôn mê quá sâu, 5-6 điểm hôn mê sâu, 7-8 điểm hôn mê nông.

 

6498 Views
Super User

"Nụ cười thân thiện - Chất lượng hoàn hảo".

Rất hân hạnh được phục vụ

Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…