Ung thư ruột

Khối u ác tính ở vị trí đại tràng. Căn cứ theo vị trí mà phân ra thành ung thư ruột kết và ung thư trực tràng.

Ung thư ruột kết

là một trong những loại khối u thường gặp. Ung thư ruột kết thường hay phát sinh nhất ở đoạn ruột kết xichma tiếp đó là đoạn trên kết tràng và đoạn dưới kết tràng. Tỉ lệ phát bệnh ung thư ruột ở thành phố cao hơn nông thôn, ở nam nhiều hơn nữ gấp 2,35 lần, độ tuổi thường sau 35 tuổi tập trung trên 55 tuổi. Triệu chứng có rối loạn chức năng ruột, xuất hiện ỉa chảy và táo bón luân phiên, vùng bụng khó chịu, bụng trướng, đau bụng, đại tiện huyết ẩn dương tính, gầy rộc, sút cân,… ở vùng bụng sẽ sờ thấy cục u.

Ung thư trực tràng

có các triệu chứng như số lần đại tiện tăng lên, cảm giác đại tiện không hết, phân vót lại, kèm theo máu và chất nhầy,… Polip ruột đa phát thường là loại bệnh tiền ung thư của ung thư ruột. Uống bari rửa ruột chụp X-quang, kiểm tra soi ruột và làm sinh thiết bệnh lí sẽ chẩn đoán được chính xác.

Các điều tra bệnh học dịch tễ cho thấy sự phát sinh ung thư ruột có liên quan tới việc đưa vào lượng mỡ quá nhiều và đưa vào chất xơ trong bữa ăn quá ít. Trong thịt lợn có chứa lipit tương đối nhiều, cho nên ăn nhiều thức ăn từ thịt lợn sẽ làm gia tăng nguy cơ gây ung thư ruột, còn các loại rau màu xanh, màu vàng tươi ngon như bắp cải, giá đậu nành, rau cần, đỗ tương, đậu Hà Lan, đậu đũa, cà rốt, măng, hành, tỏi, hẹ rau câu, tảo đỏ,… thì lại có tác dụng bảo vệ. Ngoài ra, với chế độ ăn năng lượng cao trong một thời gian dài sẽ làm cho người béo phì, đây là một trong những nguyên nhân gây ung thư ruột cao. Chế độ ăn lipit cao, cholesterol cao sẽ làm tăng bài tiết mật, dịch mật dưới tác dụng của các vi sinh vật trong ruột, sẽ làm cho tỉ lệ giữa axit coleic (choleic), bậc hai với axit coleic bậc một tăng lên, mà metylcholanthren (methylcholanthrene) axit coleic bậc hai, dưới tác dụng của các enzim trong cơ thể sẽ phân hủy, đó lại là một chất gây ung thư mạnh. Đồng thời axit đeoxicolic (deoxycholic) và axit lithocolic (lithocholic) trong axit colic bậc hai cũng là một chất gây ung thư. Vì thế lượng lipit đưa vào tương quan dương với tỉ lệ tử vong của ung thư ruột,… Xơ thức ăn sẽ hấp thu các chất gây ung thư, đồng thời làm tăng thêm dung lượng phân trong ruột làm loãng chất gây ung thư, có tác dụng giảm thiểu phát sinh ung thư ruột. Đưa vitamin A và β – caroten vào sẽ giảm bớt được tính mẫn cảm gây ung thư ruột kết của aftatoxin.

Canxi sẽ kết hợp với axit cteoxicolic trong axit coleic bậc hai, từ đó giảm thiểu được tác dụng kích thích đối với niêm mạc ruột, cho nên uống canxi sẽ phòng ngừa được ung thư ruột kết. Nguyên tố vi lượng selen cũng có tác dụng bảo vệ đối với ung thư ruột kết, mức selen trong huyết thanh tương quan âm với tỉ lệ tử vong của ung thư ruột. Lượng kẽm đưa vào cao thì mức kẽm trong máu cao, tỉ lệ tửvong do ung thư ruột cũng cao, có ý kiến cho rằng đó là do kẽm kháng lại selen dẫn đến.

Các biện pháp phòng ngừa về mặt dinh dưỡng với ung thư ruột chủ yếu có:

1) Đưa năng lượng vào ở mức duy trì được sự cân đối thể trọng bình thường là vừa.

2) Khống chế lượng lipit đưa vào dưới 30% tổng năng lượng trong đó  tỉ lệ hàm lượng giữa axit béo không no nhiều lần, axit béo không no đơn và axit béo no là 1:1:1.

3) Ăn ít thức ăn tinh chế, tăng thêm xơ thức ăn, lượng đưa và mỗi ngày khoảng 20g là vừa.

4) Tăng thêm lượng vitamin đưa vào, nhất là đối với những nhóm người có nguy cơ cao phải gấp 2 – 3 lần lượng cung cấp, nên cung cấp vitamin A là 2500μg đương lượng retinol hoặc β – caroten 15mg.

5) Tăng thêm lượng canxi đưa vào, mỗi ngày nên bổ sung canxi đến 1,5g.

6) Bổ sung selen 100 – 150μg/ngày.

Những người bị ung thư ruột trước và sau phẫu thuật cần tăng thêm cung cấp năng lượng, protein, vitamin và chất khoáng, để làm tăng sức đề kháng của cơ thể.

Vinh Nguyễn tổng hợp

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply