Ung thư vú

Một trong những loại khối u ác tính thường gặp ở phụ nữ, ở nam rất hiếm gặp, chỉ chiếm 1% số ung thư vú; Tuyệt đại đa số (96%) phát bệnh sau 35 tuổi. Triệu chứng là ở bộ phận vú sờ thấy cục sưng, đau, da quanh vú thay đổi,… kiểm tra nhiệt đồ và chụp X-quang có thể chẩn đoán được Nguyên nhân gây ung thư vú rất phức tạp, sự phát sinh và phát triển ung thư vú có liên quan tới rất nhiều nhân tố, như virut gây bệnh, di truyền, nội tiết, độ tuổi có kinh lần đầu sớm, giai đoạn mãn kinh muộn, buồng trứng, tử cung có bị cắt bỏ hay không, các bệnh về vú, có cho con bú hay không, độ tuổi sinh đẻ,…

Nhân tố chế độ ăn dinh dưỡng cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ung thư vú. Các điều tra về bệnh học dịch tễ cho thấy năng lượng cao, lipit cao và béo phì có liên quan đến ung thư vú, lượng lipit đưa vào tương quan dương với tỉ lệ tử vong của ung thư vú.

Khi tổng năng lượng và lượng lipit đưa vào cao, sẽ làm cho độ tuổi có kinh lần đầu đến sớm, làm gia tăng bài tiết hoocmon buồng trứng và tuyến yên; thường xuyên đưa vào lượng lipit cần sẽ ảnh hưởng đến tác dụng điều tiết của tuyến yên, khiến cho mức lactogen trong máu tăng cao, đồng thời cũng sẽ thông qua chuyển hóa hoocmon của buồng trứng mà ảnh hưởng đến mức estrogen tiết ra estrogen làm cho lượng hợp thành oestron (oestrone) và oestrađio (oestradio) có tác dụng thúc đẩy gây ung thư tăng lên, từ đó dễ dẫn đến phát sinh ung thư vú. Các loại axit béo cũng có ảnh hưởng đến sự phát sinh ung thư vú khi lượng axit béo không no được đưa vào nhiều sẽ dễ dẫn đến ung thư vú, ở nhóm người có lượng vitamin A và β – caroten đưa vào cao, tỉ lệ phát bệnh ung thư vú thấp.

Mức vitamin C trong cơ thể bệnh nhân ung thư vú hạ thấp, nồng độ vitamin C trong cơ thể các bệnh nhân sau phẫu thuật và sau trị liệu bằng phóng xạ hoặc trị liệu bằng hóa chất vẫn tiếp tục giảm xuống, chứng tỏ lượng nhu cầu về vitamin C của bệnh nhân loại này tăng lên, cần tăng cường bổ sung vitamin E liều cao sẽ ức chế được ung thư vú do hoá chất gây ung thư dẫn đến, vì thế vitamin E cung cấp đủ lượng sẽ có tác dụng phòng ngừa ung thư vú.

Lượng nguyên tố vi lượng selen đưa vào tương quan âm với tỉ lệ phát bệnh ung thư vú và mức selen trong máu của nhóm người này cũng tương quan âm với tỉ lệ tử vong của ung thư vú. Khi mức selen trong máu thấp còn dễ dẫn đến ung thư vú tái phát. Thiếu iot cũng dễ dẫn đến ung thư vú. Nhưng lượng kẽm đưa vào lại tương quan dương với tỉ lệ phát bệnh ung thư vú, lượng kẽm đưa vào quá nhiều sẽ dễ dẫn đến phát sinh ung thư vú.

Các biện pháp phòng chữa bằng dinh dưỡng chủ yếu có:

1) Khống chế năng lượng, duy trì cân nặng bình thường, tránh để béo phì. Khống chế tổng năng lượng còn quan trọng hơn cả chỉ khống chế lipit.

2) Tỉ lệ protein, lipit, cacbohiđrat chiếm trong tổng nhiệt năng phải hợp lí, protein cần chiếm 10 – 15%, lipit chiếm 17 – 20%, cacbohiđrat chiếm 60 – 70%.

3) Tỉ lệ axit béo, axit béo không no đơn và axit béo no trong lipit phải là 1 : 1 : 1, tức axit béo không no nhiều lần phải chiếm 30% lượng lipit.

4) Lượng cung cấp vitamin các loại ít nhất phải đạt đến chuẩn lượng cung cấp. Đối với những người có nguy cơ bị ưng thư vú cao (ngươi có kinh nguyệt lần đầu trước 13 tuổi, có tiền sử gia đình bị ung thư vú hoặc khối u ác tính, có tiền sử bị u vú lành tính, phụ nữ chưa kết hôn, người đã kết hôn nhưng chưa sinh đẻ, người chưa cho con bú, người béo phì và siêu nặng), lượng vitamin đưa vào nên gấp 2 – 3 lần so với lượng cung cấp bình thường, trong đó β – caroten mỗi ngày cung cấp 10 – 15mg, kẽm 15mg, đồng 2 – 3mg, iot 0,15mg, selen 0,1mg. 5) Những người bị bệnh ung thư vú trước và sau khi trị liệu đều cần tăng thêm lượng cung cấp chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng. Tăng thêm lượng cung cấp protein, đồng thời lấy loại protein chất lượng tốt như càc chế phẩm đậu nành,… là nguồn cung cấp protein chủ yếu, ngoài ra còn cần cung ứng đầy đủ vitamin và các nguyên tố vi lượng, để giúp ích cho việc ngăn chặn ung thư vú tái phát.

Vinh Nguyễn tổng hợp

We will be happy to hear your thoughts

Leave a reply